Site icon CÔNG TY CP NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG TIA ĐẤT BẢO VỆ SỨC KHỎE

Kỷ niệm 15 năm Công ty Cổ phần Nghiên cứu Môi trường Tia đất Bảo vệ sức khỏe ra đời tồn tại và phát triển – Phần 3

CÔNG NGHỆ BỨC XẠ TỪ – CÔNG NGHỆ ĐÓN ĐẦU CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 DO TS. VŨ VĂN BẰNG CHỦ TỊCH HĐQT CÔNG TY PHÁT MINH

Những thành công ấn tượng trên chặng đường đưa Công nghệ Bức xạ từ do chính Công ty phát minh vào phục vụ đất nước

LIỆT KÊ NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ SẢN XUẤT PHỤC VỤ THIẾT THỰC VÀ ĐẮC LỰC SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN DÂN SINH KINH TẾ ĐẤT NƯỚC TRONG GẦN 20 NĂM QUA ĐÃ ĐƯỢC CÔNG NGHỆ BỨC XẠ TỪ TÁC ĐỘNG THÀNH CÔNG VÀ HIỆU QUẢ

  1.  Những công trình nghiên cứu khoa học mở rộng Vật lý lý thuyết về trường điện từ thành công nhờ có sự định hướng của “Thuyết bức xạ từ trường pha”

Sau khi phát hiện ra từ trường pha và xây dựng “Thuyết bức xạ từ trường pha”, tác giả ứng dụng thuyết này đi sâu vào nghiên cứu mở rộng Vật lý lý thuyết về trường điện từ, cụ thể:

     Như đã biết, trong mô hình chuẩn của vật lý hiện đại có 4 trường tương tác là trường điện từ, trường hấp dẫn, trường tương tác mạnh và trường tương tác yếu. Trong đó, gần đây các nhà vật lý đã thống nhất được trường điện từ và trường tương tác yếu làm một và đặt tên là trường điện – yếu. Tiếp tục trên cơ sở ra đời thuyết từ trường pha, TS. Vũ Văn Bằng chứng minh trường điện từ và trường hấp dẫn là một và đặt tên là “Trường điện từ pha”. Nhờ có trường này mà tất cả các thể vật chất vật lý trong vũ trụ mênh mông từ micro (nguyên phân tử) đến maxcro (hành tinh) chuyển động theo quy đạo riêng một cách hết sức trật tự và ổn định.

     Như đã biết nguồn gốc của từ trường Trái đất cho đến nay các nhà khoa học thế giới vẫn chỉ đưa ra dưới dạng giả thuyết, giả thuyết “Dynamo”. Trên cơ sở “Thuyết từ trường pha”, TS. Vũ Văn Bằng bằng toán, vật lý, hóa, cơ đã chứng minh một cách chặt chẽ chính xác tường minh về sự hình thành từ trường của Trái đất. Kết quả từ trường Trái đất chính là từ trường pha. Điều này rất dễ nhận ra vì Trái đất là một thiên thể có cấu trúc pha rất điển hình (nhân lỏng bao lồng nhân cứng, vỏ Manty bao lồng nhân lỏng và nhân cứng, vỏ cứng Trái đất bao ngoài vỏ Manty, tầng khí quyển bao toàn bộ Trái đất). Nhờ kết quả này đã khắc phục được những hạn chế tồn tại của giả thuyết Dinamo để lại không giải thích được, đó là:

     Đặc biệt do cấu trúc của Trái đất như mô tả ở trên, TS. Vũ Văn Bằng còn chứng minh tiếp Trái đất không chỉ có 1 mà có tới 4 loại từ trường có nguồn gốc khác nhau cùng tồn tại – nhân rắn và nhân lỏng, nhân lỏng và vỏ manti, vỏ manti và vỏ cứng Trái đất, vỏ cứng Trái đất với tầng khí quyển.

  1. Mô tả những sản phẩm đã được tạo ra từ nghiên cứu ứng dụng thành công CNBXT vào sản xuất thực tế đời sống xã hội góp phần phát triển dân sinh kinh tế đất nước, đặc biệt bảo vệ và nâng cao sức khỏe cộng đồng

   Môi trường sống: không khí, đất, nước, thực phẩm vô cùng quan trọng đối với con người và mọi sinh vật trên Trái đất. Trong đó môi trường đất nơi ăn chốn ở của mọi gia đình và nơi làm việc của mọi cơ quan trường học, công trường, xí nghiệp, doanh nghiệp…“tốt xấu”, “lành dữ”, “địa linh nhân kiệt” hàng ngày tác động trực tiếp đến sức khỏe con người đến nay kể cả trên thế giới cũng như trong nước chưa được giới Khoa học nói chung và Môi trường nói riêng quan tâm nghiên cứu, thậm chí bỏ qua. Trong khi đó, TS. Vũ Văn Bằng đã bỏ công sức và trí tuệ tập trung nghiên cứu về môi trường đất này kể cả mặt tốt cũng như mặt có hại của chúng để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cộng đồng từ xa, không những cho người Việt mà cả thế giới. Kết quả nghiên cứu thực sự đáng khích lệ và đã mách bảo cho ta thấy sự cần thiết phải kiểm tra chất lượng mảnh đất tốt xấu nơi ta đang ở và làm việc cũng như kiểm tra trước khi đến nơi ở mới… Đến nay ở Việt Nam đã có nhiều người và tập thể cơ quan nhận thức được điều đó và có nhu cầu muốn biết môi trường đất ta đang sử dụng tốt hay xấu,  nên suốt 15 năm nay TS. Vũ Văn Bằng đã trực tiếp đi kiểm tra và xử lý đất nơi ở có hại cho sức khỏe cho hàng ngàn gia đình và hàng trăm trụ sở cơ quan trường học, xí nghiệp và doang nghiệp cũng như hàng trăm dự án khu đô thị, khu công nghiệp xây mới trên khắp cả nước.

      Khối lượng công việc được thực hiện  nêu trên được liệt kê cụ thể ở dưới đây:

      Điển hình trong số đó, trước hết phải kể đến thành công nghiên cứu đo đạc kiểm tra môi trường đất, nước, không khí bằng CNBXT cho:

–  “Dự án tâm linh”: “Điểm ngắm cảnh toàn khu” hay “Huyệt đao Am Tiên” nằm trên đình núi Nưa xã Tân Ninh, tỉnh Thanh Hóa theo thông báo của Văn phòng Tỉnh Ủy tỉnh Thanh Hóa và yêu cầu của UBND Huyện Triệu Sơn, năm 2016. CNBXT đã kiểm tra chất lượng môi trường đất, nước ngầm và không khí của toàn “Huyệt đạo” và đã có báo cáo kết quả gửi tỉnh UBND tỉnh Thanh Hóa. Trong đó kết luận: “Vùng này không thể trở thành “điểm ngắm cảnh toàn khu” hay gọi là “Huyệt đạo An Tiêm” được vì cấu trúc địa chất có đứt gẫy kiến tạo lớn chứa nước ngầm cắt ngang qua nên cả vùng không được ổn định, đặc biệt trên đỉnh núi đã từng là nghĩa địa lớn chôn người chết…”.

–   Khu vực Đảo Yến – Vũng Chùa, Quảng Bình  – “Nơi an nghỉ vĩnh hằng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp” rộng 2,5km2 đã được CNBXT làm sạch môi trường đất nước và không khí vào cuối năm 2006 đầu năm 2007.

–   “Vườn chữa bệnh kỳ lạ Long An” đến nay mặc dù không còn tấp nập người đến “tự chữa bệnh” như những năm đầu (2003-2010) và tuy đã có 3 đề tài Khoa học cấp quốc gia nghiên cứu tìm thực hư của sự “chữa bệnh kỳ lạ” này, nhưng kết quả dưới góc độ khoa học của 3 đề tài này vẫn không giải mã được. Năm 2019 Công ty Tia đất tự nguyện vào khảo sát nghiên cứu độc lập bằng CNBXT, kết quả đã xác định đây đúng là khu đất có khả năng dưỡng sinh, hạn chế bệnh tật nâng cao sức khỏe cho con người tương tự như những vùng nổi tiếng được mệnh danh “Đất thánh” chữa được bệnh ở nước ngoài. Cụ thể bằng CNBXT đã tìm ra được những thông số yếu tố môi trường đất, nước ngầm, không khí có tác động tích cực đối với sức khỏe con người, đặc biệt giải mã được những điều kiện tự nhiên như thế nào để sản sinh ra mảnh đất “Kỳ lạ” đó. Và từ đó Công ty tia đất với tâm nguyện là sẽ đi khắp mọi miền đất nước để phát hiện tìm kiếm thêm những mảnh đất tốt như thế góp phần nâng cao sức khỏe người Việt và giảm tải cho các bệnh viện trên toàn quốc. Kết quả từ năm 2019 đến nay, Công ty Tia đất đã tìm được nhiều mảnh đất có khả năng dưỡng sinh như thế ở cả 3 miến Bắc, Trung và Nam, khu đất của Cơ sở chăm sóc sức khỏe ở xã Vĩnh Kim, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh là một ví dụ. Dự định năm tới (2022) sẽ có báo cáo chính thức gửi tới Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường về kết quả nghiên cứu này.

   Tiếp tục dưới đây thống kê loạt những kết quả kiểm tra chất lượng môi trường đất nơi ở và làm việc cũng như những khu đất Dự án mới sắp xây dựng trên toàn quốc:

Kiểm tra môi trường đất Dự án

Ở phía Nam:

Tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Huế

Tỉnh Quảng Bình:

Các Tỉnh phía Bắc

Thành phố Hà Nội

Kiểm tra và xử lý đất đang sử dụng (nơi làm việc): Trụ sở của các Cơ quan, Trường hc, Công ty, Xí nghiệp, Doanh nghiệp

Thủ đô Hà Nội

Tỉnh Hải Dương

Tỉnh Hải Phòng

Tỉnh Hà Giang

Tỉnh Quảng Bình

Toàn bộ trụ sở của các cơ quan chính quyền, Sở ban ngành tỉnh:

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Huế

Riêng đối với đất thổ cư đang sinh sống của các gia đình ở các Tỉnh thành  trên toàn quốc đã được khảo sát đo đạc kiểm tra và xử lý đến nay đã đạt tới con số hàng nghìn gia đình. Ở tại các gia đình đó CNBXT làm 2 việc cùng một lúc là vừa xử lý triệt tiêu nguồn từ trường dị thường và từ trường dị biệt có hại gây nhiễm từ vừa kết hợp khử nhiễm từ trong trên cơ thể người

  1. Lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc nâng cao sức khỏe cộng đồng,

     CNBXT đã trở thành công cụ độc đáo sát cánh cùng ngành Y kiểm tra, chăm sóc sức khỏe cộng đồng hiệu quả:

  1. Lĩnh vực tìm mồ mả hài cốt bị mất dấu tích, đặc biệt tìm hài cốt liệt sỹ thất lạc ở cả 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Sáng tạo phương pháp xác định AND tại chỗ

Theo yêu cu ca Tnh Đội Qung Tr.

Theo yêu cầu của Sở Khoa học và Công nghệ Bà Rịa-Vũng Tầu. Sở  thành lập Đề tài nghiên cứu KH&CN: “Tìm 2 ngôi mộ tập thể thất lạc ở huyện Đảo Côn Đảo bằng phương pháp địa bức xạ” năm 2011, Công ty Tia đất chủ trì, TS. Vũ Văn Bằng CN Đề tài. Kết quả đã tìm thấy và định vị 2 ngôi mộ tập thể 75 liệt sĩ cách mạng ở gần sân bay Cổ Ống và 154 tử tù ở trước cửa Chuồng Cọp, huyện Côn Đảo, 2011. Đề tài thành công. Cơ quan chủ quản Đề tài và Ban lãnh đạo huyện Đảo cùng Ban di tích lịch sử Đảo đã đào kiểm tra và xác nhận đúng là 2 ngôi mộ tập thể cần tìm và khoanh vùng xây đài tưởng niệm mà không khai quật di dời.

Theo công văn yêu cầu của tỉnh Đội Gia Lai

Theo yêu cầu của Hội Cựu chiến bình tỉnh Hải Dương

Theo yêu cầu của các gia đình liệt sỹ

Tìm mồ mả thất lạc cho các gia đình trên khắp cả nước, đăc biệt nhiều ở miền Bắc: xung quanh Hà Nội và dọc sông Hồng. Tính đến nay đã được hàng trăm ngôi.

  1. Lĩnh vực Cứu hộ cứu nạn (tìm người bị vùi lấp trên cạn và dưới nước do thiên tai và nhân tai bằng từ kế của CNBXT);

     Đây là lĩnh vực hoàn toàn mới. Cho đến nay trên thế giới chưa có phương pháp cũng như máy móc tìm người gặp nạn bị vùi lấp trên cạn cũng như dưới nước (ao hồ, sông biển…). Ví dụ: trận động đất sóng thần ở Nhật Bản năm 2011 gần 20 nghìn người bị vùi lấp và mất tích, cho đến nay hàng ngày vẫn có nhiều tốp người vác cuốc xẻng đi bới tìm mò. Mới đây nhất ngày 30/09/2018 trân động đất sóng thần ở Indonesia cũng vậy. Trong khi đó Công ty Tia đất trên cơ sở CNBXT đã sáng tạo ra phương pháp Bức xạ từ để tìm người bị vùi lấp trên cạn cũng như dưới nước. Cụ thể Công ty đã tình nguyện (không tính công) tham gia cứu hộ cứu nạn thành công mỹ mãn ở các vụ sau:

  1. Lĩnh vực Xây dựng, Giao thông, Thủy lợi, Thủy điện,

    CNBXT với chỉ một từ kế duy nhất thuộc công nghệ có thể khảo sát kiểm tra phát hiện được tất cả những điểm yếu về thành phần và cấu trúc địa chất (địa chất học gọi là những dị thường cấu trúc địa chất) của nền đất đá nằm dưới móng các công trình  dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, thủy điện ảnh hưởng bất lợi tới biến dạng ổn định, gây sập sụt đổ vỡ công trình. Trong số những dị thường cấu trúc địa chất phổ biến và đáng kể nhất được CNBXT điểm mặt chỉ tên nhanh chóng và chính xác gồm: đứt gẫy kiến tạo, đới dập vỡ kiến tạo, hang karst ngầm, sụt trượt ngầm, xói ngầm, dòng ngầm…tồn tại trong đá gốc lục nguyên, bazan và đá vôi, cũng như những vũng vịnh ao hồ đầm lầy cổ bị vùi lấp, túi bùn, cát chẩy… hình thành trong quá trình tạo nên đồng bằng của các con sông lớn. CNBXT có thể phát hiện và xác định một cách định lượng các thông số riêng của từng loại dị thượng một như: vị trí, kích thước không gian 3 chiều, hình dạng chiếu bằng và nằm ở độ sâu cách mặt đất bao nhiêu mét, lập bản đồ phân bố các loại dị thường địa chất có mặt trong phạm vi nghiên cứu rộng hay hẹp tùy bên yêu cầu có thể là Xã, Huyện hoặc Tỉnh, cũng như tìm ra được mối liên hệ và tương quan giữa các loại dị thường với nhau…Lấy một số ví dụ điển hình liệt kê dưới đây làm minh chứng:

Trong phạm vi lòng hồ thủy điện sông Tranh 2 đã phát hiện và xác định được vị trí (tọa độ) của hệ thống gồm 6 ĐGKT đang hoạt động, có đứt gẫy xuất hiện nước nóng. Bản đồ vị trí các đứt gẫy do CNBXT phát hiện và định vị khác nhiều so với bản đồ do Điạ chất và Viện Vật lý địa cầu lập.

Đặc biệt không có đứt gẫy kiến tạo (ĐGKT) nằm dưới con đập dâng nước như các nhà Địa chất cảnh báo.

    Kết quả nêu trên được lập thành báo cáo đóng quyển gửi tới 14 cơ quan chức năng Nhà nước gồm: Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải, Liên hiệp các Hội KH&KTVN, Văn phòng Chính phủ, Ban Tuyên giáo Trung ương, UBKH&MT Quốc hội, Bộ KH&CN, Bộ Công thương, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Viện Hàn lâm KH&CNVN, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Hội đồng nghiệm thu Nhà nước các Công trình xây dựng, UBND tỉnh Quảng nam, UBND huyện Bắc Trà My. Trong đó kết luận:

      “Động đất kích thích đã ở vào giai đoạn cuối của thời kỳ tiền chấn (thời kỳ đỉnh) và đang chuyển sang thời kỳ dư chấn (giảm dần). Đáy đập thủy điện không có ĐGKT cắt qua như các nhà địa chất công bố, nên đập hoàn toàn an toàn và ổn định, có thể tiếp tục dâng nước sản xuất điện” đã tiết kiệm cho Tập đoàn điệm lực hàng trăm tỷ đồng, không phải mời chuyên gia nước ngoài như dự định trước đó và không phải gia cường gia cố lại đập, tiếp tục sản xuất điện…Và cũng từ đó cho đến nay hiện tượng động đất giảm hẳn về tần xuất và cấp độ, cũng như con đập vẫn làm việc bình thường. Thực tế đó đã chứng minh kết luận như trên là hoàn toàn đúng đắn chính xác, như vậy sử dụng CNBXT rất hiệu quả vào nghiên cứu dị thường địa chất.

Trong lĩnh vực Xây dựng, Giao thông, Thủy lợi, Thủy điện CNBXT không chỉ dừng lại ở khâu kiểm tra nền đất để giải bài toán biến dạng ổn định nền móng công trình như mô tả ở trên, mà còn kiểm tra chất lượng vật liệu xây dựng cũng như chất lượng trong quá trình thi công các loại công trình cho kết quả siêu nhanh và chính xác

CNBXT đã làm được những nội dung nêu trên cho các công trình thực tế điển hình sau:

               + Không có đứt gẫy kiến tạo, dòng ngầm, xói ngầm  dưới đáy đập

               + Thân đập không bị biến dạng uốn võng xoắn, nứt nẻ dập vỡ, thậm chí vi nứt không có

               + Triền núi 2 vai đập gối vào hoàn toàn ổn định, không có sụt lún trượt lở xói ngầm

             + Duy nhất ở mỗi vai đập xuất hiện dòng thầm nhỏ. Kết quả này đã lưu ý cho Tập đoàn Điện lực trong báo cáo chính thức.  

Riêng đối với ngành Giao thông, ngoài vấn đề kiểm tra chất lượng địa chất dưới nền đường, chất lượng thi công đào đắp nền đường và độ chặt nền đường khi lu lèn… CNBXT còn giúp chỉ ra nguyên nhân hình thành những “điểm đen” tai nạn giao thông đường bộ, đường hàng không. Cụ thể

  1. Lĩnh vực Địa chất khoáng sản (phát hiện và định vị tất cả các loại mỏ chỉ cần 1 loại từ kế thuộc CNBXT)

     Cũng chỉ với 1 từ kế duy nhất thuộc CNBXT có thể phát hiện và tìm được các loại mỏ rắn, lỏng, khí – kim và phi kim, kim loại mầu và kim loại đen kể cả dầu khí, đá quý và bán quý…vừa nhanh vừa chính xác. Đặc biệt có thể vừa di chuyển vừa đo trên ô tô, tầu thuyền kể cả máy bay. Trong  hơn 10 năm qua bằng CNBXT đã giúp cho hơn 10 doanh nghiệp khai mỏ miền Bắc tìm kiếm mỏ mới hoặc kiểm tra xác định lại diện tích phân bố và hướng phát triển của thân quặng cũng như đánh giá lại trữ lượng mỏ đang khai thác còn nhiều hay ít…Cụ thể là:

Lập bản đồ xác định phạm vi phân bố (theo diện) , khoanh vùng phân cấp hàm lượng (phong phú, trung bình, nghèo) và xác định bề dầy thân quặng của mỏ vàng sa khoáng ở Na Rỳ Bắc Cạn cho “Công ty khai khoáng Dũng Hải” năm 2009. Lần lượt sau đó là các mỏ:

  1. Lĩnh vực Tài nguyên thiên nhiên (phát hiện và tìm kiếm nước ngầm, nước nóng, nước dưỡng sinh, biên xâm nhập mặn cũng chỉ cần dùng 1 loại từ kế của CNBXT)

     Công nghệ bức xạ từ đã tác động vào lĩnh vực này ở Việt Nam sớm nhất so với các lĩnh vực nêu ở trên ngay từ năm 2001 khi tham gia Đề tài KHCN “Hồ Treo” của Viện Địa chất, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam. Từ đó đến nay khối lượng công tác khảo sát đo đạc tìm nước ngầm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất cho những vùng khan hiến và khó khăn về nước đã phủ gần khắp đất nước đạt trên 40 tỉnh thành và Hải đảo như: Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Hòa Bình, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Phú Thọ, Hải Dương, H­ưng Yên, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghê An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, KonTum, Gia Lai, Đăclăk, Đăknông, Đà Lt, Buôn Mê Thuật, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Ninh Thun, Bà Rịa – Vòng Tàu, Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Côn Đảo, Phú Quốc, Vinpealland… với tổng số trên 500 giếng khoan có nước cho dân. Song song giúp dân, CNBXT còn được Chính quyền các địa phương Tỉnh, thành, thị trấn, thị tứ kể cả các Doanh nghiệp nhà nước và tư nhân tin dùng và yêu cầu Hợp đồng dưới dạng Đề tài, Đề án, Dự án KHCN tìm nước ngầm phục vụ quy hoạch khai thác cấp nước tập trung…Tính đến nay Công ty Tia đất đã thực hiện trên 100 hợp đồng lớn nhỏ như vậy trên khắp cả nước và 2 Hợp đồng với Campuchia. Dưới đây giới thiệu một số công trình điển hình tìm nước ngầm thành công ở Việt Nam và Campuchia mà trước đó các đơn vị thăm dò Địa vật lý ở các Bộ ngành, tỉnh thành thất bại không tìm ra.

Đề tài KHCN ứng dụng CNBXT tìm nước ngầm có:

Đề án KHCN ứng dụng CNBXT tìm nước ngầm có:

Dự án KHCN ứng dụng CNBXT tìm nước ngầm có:

Tìm nước khoáng nóng bằng CNBXT

Xác định biên xâm nhập mặn bằng CNBXT

  1. Lĩnh vực chống thiên tai – tai biến địa chất bảo vệ an sinh xã hội

Tham gia lĩnh vực này theo yêu và thực hiện chức năng phản biện khoa học của Liên Hiệp các Hội KH&KTVN (Kinh phí tự trang trải):

    Đo đạc kiểm tra điều kiện địa chất kiến tạo, hoạt động động đất và độ ổn định, an toàn của nền đập chính Thủy điện Sông Tranh 2, Bắc Trà My, Quảng Nam trên diện tích 400km2 trong thời gian 3 ngày. Kết quả xác định động đất đã ở đỉnh và chuyển sang thời kỳ tắt dần, còn con đập hoàn toàn ổn định không có đứt gẫy địa chất kiến tạo nguy hiểm dưới nền đập như các nhà Địa chất khảng định. Kết quả khảo sát đo đạc đã gửi tới 14 cơ quan chức năng Nhà nước: Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải, Liên hiệp các Hội KH&KTVN, Văn phòng Chính phủ, Ban Tuyên giáo Trung ương, UBKH&MT Quóc hội, Bộ KH&CN, Bộ Công thương, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Viện Hàn lâm KH&CNVN, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Hội đồng nghiệm thu Nhà nước các Công trình xây dựng, UBND tỉnh Quảng nam, UBND huyện Bắc Trà My. Trên cơ sở kết quả này Tập đoàn ĐLVN tiếp tục cho dâng nước sản xuất điện trở lại tiết kiệm được hàng trăm tỷ đồng không phải xây dựng lại đập.

   Tìm nguyên nhân và giải pháp xử lý sụt lún đất ở khu Hải Sơn 1, F. Cẩm Đông, TP. Cẩm Phả. Kết quả nghiên cứu của tác giả đã được báo cáo ở Hội nghị do UBND TP. Cẩm Phả tổ chức, ngày 8/10/2013 với 13 cơ quan chính quyền cùng đầy đủ các Sở ban ngành liên quan của tỉnh tham dự. Hội nghị đánh giá cao kết quả sử dụng công nghệ bức xạ từ hơn hẳn kết quả địa vật lý truyền thống.

    Kết quả ứng dụng công nghệ bức xạ từ khảo sát điều tra tìm nguyên nhân và cơ chế gây hiện tượng sụt lún đất ở thôn Hòa Lạc, xã An Tiến, huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội, 2016 (sập nhà dân). Báo cáo kết quả đã gửi tới các Cơ quan: Sở Tài nguyên & Môi trường Hà Nội, Chủ tịch Hội Địa chất thủy văn VN, Chủ tịch UBND huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội, Chủ tịch UBND xã An Tiến, huyện Mỹ Đức nghiên cứu xử dụng

Chống lũ lụt, đã thực hiện Đề tài KH&CN: “Nghiên cứu luận cứ khoa học tìm nguyên nhân và đề xuất giải pháp thoát lũ nhanh cho xã Tân Hóa, Huyện Minh Hóa, Tỉnh Quảng Bình do Sở KH&CN Quảng Bình quản lý năm 2011. Kết quả tỉnh đang xin kinh phí để thi công các giải pháp tác giả đề xuất để giúp địa phương chống thiên tai.

  1. Lĩnh vực tìm kho báu

 CNBXT tham gia tìm kho báu phủ hầu khắp toàn quốc từ Cao bằng, Lạng Sơn đến Vĩnh Long, Trà Vinh với trên 100 địa điểm. Trong số đó đáng kể là 2 kho báu ở Núi Tầu, Bình Thuận và núi Bà Đen, Tây Ninh.

Kết luận

  1. Tính mới và độc quyền

     Trong số những lĩnh vực nêu trên, lĩnh vực số 1, 2, 3, 4 và 5 cho đến nay kể cả trên thế giới cũng như trong nước chưa đâu làm được. Nên đây có thể được coi là những lĩnh vực Công ty Tia đất độc quyền và hoàn toàn mới có một không hai trên thế giới. Những lĩnh vực còn lại có nhiều ưu điểm vượt trội có thể thay thế những giải pháp tương tự trên thế giới và trong nước đang sử dụng

  1. Công trình khoa học –Công nghệ bức xạ từ có gía trị và ý nghĩa lớn về mặt khoa học – thực tiễn – kinh tế – xã hội

    Tác giả của công trình nghiên cứu khoa học mang tên: “Công nghệ bức xạ từ” rất tâm đắc với câu đánh giá nhận xét của Hội đồng khoa học Liên hiệp Hội KH&KT Việt Nam ghi trong Biên bản họp ngày 18/9/2012: “Công trình có ý nghĩa khoa học, thực tiễn, kinh tế và xã hội. Là một phát minh có thể đăng ký bản quyền tác giả”. Đúng vậy! và tác giả xin mượn câu đánh giá này để  kết thúc trình bày bài toàn văn mô tả công trình phát minh của mình. Tính khoa học – thực tiến – kinh tế và xã hội đó nằm ở chỗ: 

Công Ty CP Nghiên Cứu Môi Trường Tia Đất Bảo Vệ Sức Khỏe

Chủ tịch HĐQT

TS. Vũ Văn Bằng

(Quý khách hàng có nhu cầu liên hệ công việc vui lòng liên hệ số: 0765 36 46 56 – 0967 235 486 – 0913 203 452 hoặc gửi thông tin cho chúng tôi TẠI ĐÂY. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!)

Exit mobile version